Bấy giờ Lâm Xung cởi để các đồ chăn áo vào một nơi, rồi ngồi bên cạnh đống lửa để sưởi. Một mình trông trước trông sau thấy nhà cửa tồi tàn, dột nát, mà mỗi khi gió thổi thì lại chuyển đi ầm ầm, liền lẩm bẩm nói rằng: “Cái nhà này khó lòng mà giữ cho qua được mùa đông, vậy khi nào hết tuyết ta phải vào trong thành tìm anh thợ đất nó sửa lại ngay cho mới được.”
Nói đoạn lại quay vào đống lửa để sưởi. Khi được một lát, thấy trong mình hãy còn rét lạnh, lại nhớ đến lời dặn của lão già khi nãy: “Có thể mua rượu được”, liền xăm xăm dậy, đậy đống lửa lại, lấy một ít tiền giắt vào lưng rồi đeo bầu khoác nón bước ra ngoài cổng, khóa chặt cửa lại mà đi sang bên phía đông.
Khi ấy gió lạnh căm căm, Lâm Xung giày đạp đống tuyết mà đi, chẳng khác gì ngọc vỡ châu rơi ở trên đường vậy. Vừa đi được nửa dặm đường thấy có một tòa miếu làm ngay đó, Lâm Xung bèn đứng lại, cúi đầu lễ mà khấn thầm rằng:
- Dám xin thần minh phù hộ cho tôi, rồi sau tôi xin đốt vàng lễ tạ.
Khấn xong lại đi một lúc nữa, đã đến một chốn có nhà cửa đông đúc, Lâm Xung liền tìm một hàng rượu đi vào.
Khi tới nơi, chủ hàng hỏi Lâm Xung rằng:
- Khách ở đâu đến đây?
Lâm Xung trỏ vào cái bầu mà nói rằng:
- Nhà ngươi có nhớ cái bầu này không?
Chủ hàng xem cái bầu mà nói:
- Cái này của lão quân ở trong thảo đường phải không?
- Chính phải đó.
- Nếu vậy thì xin mời ông ngồi đây uống mấy chén rượu cho đỡ lạnh đã.
Nói xong lại thái một đĩa thịt bò ra, rót một hồ rượu nóng lên mời Lâm Xung. Lâm Xung ăn uống xong lại mua thêm một miếng thịt và một bầu rượu nữa rồi tính tiền trả chủ hàng mà về.
Bấy giờ gió càng to, tuyết xuống lại càng nhiều. Lâm Xung đi lật đật về tới thảo đường, mở khóa cổng đi vào thì bỗng ngạc nhiên kêu lên rằng: “Trời ôi! Cái thảo đường kia đổ mất rồi, ta ở vào đâu cho được!” Đoạn rồi lại e đống lửa ở trong chưa tắt, mà lỡ ra bốc cháy thì nguy, liền lách tay vào sờ xem thì thấy nước tuyết tưới vào nguội lạnh như tro tàn vậy. Lâm Xung lại lần vào sờ lên giường, kéo được một cái khăn khoác lên mình, thì thấy trời sắp tối, bèn nghĩ vẩn vơ một mình, không biết nghỉ đâu cho tiện.
Đương cơn nhà nát vách tan
Đem thân mưa gió tồi tàn thêm nguy!
Mới hay vận mạng bất kỳ
Phúc nào được mấy, họa thì đến luôn.
(Trích Thủy hử, hồi 9, Thi Nại Am, Á nam Trần Tuấn Khải dịch)
Lăng Minh Mạng Huế gây ấn tượng với kiến trúc truyền thống cổ xưa, mang đậm bản sắc Nho giáo. Đây là điểm đến hấp dẫn mà du khách không nên bỏ lỡ trong hành trình về thăm cố đô để chiêm ngưỡng nghê thuật kiến trúc lăng tẩm và hiểu hơn về các giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước.
Lăng Minh Mạng là một trong 7 khu lăng tẩm được xây dựng dưới triều Nguyễn. Di tích là điểm đến hấp dẫn thu hút đông đảo du khách ghé thăm trong hành trình du lịch Huế.
Lăng Minh Mạng còn có tên gọi khác là Hiểu Lăng, tọa lạc trên ngọn núi Cẩm Kê, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi đây gần ngã ba Bằng Lãng, cách trung tâm thành phố Huế 12km. Theo thống kê, khu đồi có đến 40 công trình lớn nhỏ.
Minh Mạng kế vị vua Gia Long và năm 1820 và đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc cải cách đất nước. Lúc bấy giờ, ông muốn xây dựng Sơn lăng để làm chốn nghĩ ngơi, thư giản sau những lo toan triều chính và là nơi để hương hỏa sau khi băng hà.
Để bắt đầu kế hoạch xây dựng, các quần thần đã mất đến 14 năm tìm kiếm vị trí phù hợp và cuối cùng đã chọn ngọn núi Cẩm Kê do nơi đây hội tụ đầy đủ các yếu tố nước, núi và cây xanh. Sau đó, vua Minh Mạng đã đổi tên ngọn núi thành Hiếu Sơn và đặt Hiếu Lăng là tên gọi cho lăng tẩm của mình.
Sau quá trình xem xét, phê duyệt các bản thiết kế, báo cáo về kiến trúc, đến tháng 4/1840 lăng bắt đầu xây dựng. Trong quá trình thi công, vua Minh Mạng lâm bệnh và băng hà. Một tháng sau đó, vua Thiệu Trị lên ngôi và tiếp tục xây dựng. Đến năm 1843, công trình Hiểu Lăng mới chính thức xây dựng hoàn thiện.